Truyền thuyết thác Liêng Nung
Mùa khô năm ấy, cả một vùng cao nguyên của người Mạ khô đến nứt nẻ. Nắng nung mặt đất suốt từ sáng đến chiều. Lá rừng quăn lại rồi rụng, con suối nhỏ cạn trơ đáy, rẫy ngoài kia héo rũ. Đến những cây rừng già cũng đứng chết khô giữa trưa. Vậy mà giữa cái nắng cháy ấy, có một tiếng nước chưa bao giờ tắt.
Đó là tiếng thác Liêng Nung.
Người Mạ ở bon N'riêng vẫn kể cho con cháu nghe câu chuyện này bên bếp lửa, và các già làng dặn phải kể cho đúng. Khi cả vùng không còn một giọt nước, chỉ riêng dòng Liêng Nung vẫn đổ, trắng xóa từ vách đá cao xuống lòng khe mát rượi. Đó là dòng nước cuối cùng của cả một mùa khô. Người trong bon gùi bầu ra thác, lấy nước về uống, về nấu ăn. Đàn trâu, đàn dê cứ lần theo tiếng nước mà tìm tới. Một dòng thác nhỏ, mà nuôi sống được cả người lẫn vật qua những ngày khắc nghiệt nhất.
Người gìn giữ nguồn nước quý ấy là một chàng trai tên K'Ẹ. Chàng khỏe mạnh, chân quen leo đá, tay quen phát rừng, và trong lòng thì thương buôn làng như thương chính nhà mình. Ngày nào K'Ẹ cũng ra thác. Chàng dọn cho lối nước chảy về bon được thông, vét sạch lá khô mắc trong máng dẫn, canh cho ai cũng có phần nước công bằng, không để người mạnh giành hết của người yếu. Mùa khô càng dài, chàng càng ít ngủ, chỉ mong dòng nước cuối cùng ấy đủ cho tất cả mọi người.
Một buổi, K'Ẹ đi dọc con đường mòn quen thuộc ra thác thì khựng lại. Bên một gốc cây khô, có một cô gái nằm gục xuống đất, môi khô nẻ, hơi thở mỏng như sắp lịm đi vì khát. Không kịp nghĩ ngợi, chàng cúi xuống, nhẹ nhàng nâng cô lên, rồi bế thẳng ra phía dòng Liêng Nung. Chàng vốc nước mát, đưa lên cho cô uống từng ngụm nhỏ, chậm rãi, kiên nhẫn như dỗ một mầm cây sắp tàn.
Rồi điều kỳ lạ xảy ra. Ngụm nước thác không chỉ làm cô gái tỉnh lại, mà còn khiến cô như lột xác. Gương mặt đang tái nhợt bỗng bừng lên sức sống, đôi mắt sáng trong, cả người tươi tắn, xinh đẹp lạ thường. Cô ngồi dậy, nhìn dòng thác, rồi nhìn chàng trai đã cứu mình, và khẽ nói tên mình là H'Dệt.
H'Dệt ở lại bon N'riêng. Cô và K'Ẹ thương nhau, rồi nên vợ nên chồng. Từ ngày có H'Dệt, cái bon nhỏ như ấm hẳn lên. Hai vợ chồng chăm chỉ làm rẫy, lúa ngô lên xanh, đời sống dần khấm khá. H'Dệt lại khéo tay đến lạ. Cô biết ủ men làm rượu thơm, biết ngồi bên khung cửi dệt nên những tấm vải bền đẹp, biết chẻ từng sợi nan đan thành gùi, thành rổ. Việc gì cô cũng vui vẻ chỉ lại cho những người phụ nữ khác trong bon, để ai cũng học được cái nghề nuôi sống gia đình. Ít lâu sau, hai đứa con trai kháu khỉnh chào đời, đặt tên là K'Pên và K'Peo. Nhìn hai đứa nhỏ lớn lên bên dòng thác, K'Ẹ thấy lòng mình đủ đầy.
Nhưng người Mạ kể rằng, có những điều đẹp trên đời chỉ ghé lại một thời gian. Một buổi sáng, H'Dệt ra thác tắm như mọi khi. Nước vẫn đổ, chim rừng vẫn hót, mà lần này cô không trở về. K'Ẹ cùng hai con đi tìm khắp bìa rừng, gọi tên vợ, tên mẹ, giọng lạc cả đi. Khi ba cha con chạy đến bên chân thác, từ trong làn nước đổ trắng xóa bỗng vọng ra một tiếng nói ấm áp mà xa xăm. Tiếng ấy cho họ biết H'Dệt vốn là một nàng tiên, được Giàng thương người Mạ mà cử xuống trần, để giúp buôn làng giữ lấy nguồn nước, giữ lấy nòi giống qua cơn hoạn nạn. Nay phận dưới trần của nàng đã trọn, nàng phải trở về trời.
Người Mạ tin ở Giàng, và họ đón nhận lời ấy bằng cả nỗi buồn lẫn lòng biết ơn. K'Ẹ và hai con không trách trời, cũng không oán ai. Ngày ngày, ba cha con vẫn ra thác, đứng lặng bên dòng nước, mong một lần được thấy lại bóng người thân thương. Nhưng chỉ có tiếng nước đều đều đáp lời. Biết không thể gặp lại H'Dệt nữa, ba cha con càng thương nhau hơn, càng chăm chỉ làm lụng hơn, giữ gìn dòng thác và mảnh đất mà nàng từng đặt bao tâm sức.
Hai đứa nhỏ K'Pên và K'Peo lớn lên thành hai chàng trai vững vàng, rồi dựng vợ, sinh con, lập nên những buôn làng mới. Từ gốc rễ ấy mọc ra ba bon: bon N'riêng, bon Bu Sốp và bon Ting Wel Đơm. Ba bon đứng gần nhau như ba anh em, mùa vui thì chung một tiếng cười, mùa khó thì chia nhau từng gùi lúa. Đến tận bây giờ, ba bon ấy vẫn còn đó, và người trong ba bon vẫn đùm bọc nhau như con một nhà, đúng như điều H'Dệt từng mong.
Bao đời nay, người Mạ vẫn tự hào kể về Liêng Nung. Dù mùa khô có gay gắt đến đâu, dòng thác ấy chưa từng một lần cạn. Nó vẫn đổ, như thể nhớ lời hẹn phải nuôi lấy buôn làng. Ai có dịp lên vùng đất này, đứng bên dòng thác trắng xóa giữa rừng già, lắng tai một chút giữa tiếng nước ngân dài, sẽ hiểu vì sao người Mạ thương Liêng Nung đến vậy. Và cả nhà sẽ nghe, trong tiếng nước ấy như còn vọng lại giọng của một người đã về trời từ rất lâu, mà chưa từng thật sự rời khỏi bon làng này.