Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Truyền thuyết Thiên Y A Na và khúc gỗ trầm hương

0:000:00

Có một mùi hương không giống bất cứ mùi nào khác. Trầm. Ấm, sâu, hơi ngọt, thoảng lên một lần rồi ở lại rất lâu trong trí nhớ.

Ở Nha Trang, thứ hương ấy như tỏa ra từ một ngọn đồi nhỏ bên cửa sông, nơi có mấy ngọn tháp gạch đỏ lặng lẽ đứng nhìn ra biển. Người ven biển miền Trung vẫn kể rằng mùi trầm ấy gắn liền với một người Mẹ. Và câu chuyện về Mẹ bắt đầu từ rất xa xưa, khi trầm hương hãy còn là một khúc gỗ trôi bồng bềnh trên sóng.

Đây là chuyện xưa, một truyền thuyết được sách cổ chép lại, không phải chuyện có thể đào lên mà xem. Nhưng suốt bao đời, người dân nơi đây vẫn kính cẩn kể lại, bởi với họ, đây là câu chuyện về người Mẹ của cả một vùng đất.

Chuyện kể rằng thuở ấy, dưới chân núi Đại An gần biển, có đôi vợ chồng già sống bằng nghề trồng dưa. Ruộng dưa của ông bà xanh mướt, quả tròn nằm phơi mình dưới nắng. Nhưng cứ đến mùa dưa chín, sáng ra ông bà lại thấy vài quả bị ai đó hái mất trong đêm.

Một đêm trăng sáng, ông cụ nấp bên bờ ruộng để xem cho rõ. Khuya lắm, ông thấy một cô bé chừng mười ba, mười bốn tuổi bước ra từ bóng cây, dáng nhẹ như sương, đi giữa những luống dưa và nâng niu từng quả như đang chơi đùa với chúng.

Ông cụ không hề giận. Nhìn cô bé một mình giữa đêm khuya, lòng ông chỉ thấy thương. Ông bước ra hỏi khẽ. Cô bé nói mình không còn cha mẹ, không có nơi nào để về. Thế là ông bà đưa cô về nhà, nuôi nấng như con gái ruột. Căn nhà nhỏ trồng dưa từ đó có thêm một tiếng cười.

Ông bà thương cô vô cùng. Nhưng trong lòng cô luôn có một nỗi nhớ mà ông bà không hiểu hết, nỗi nhớ về một chốn xa xôi nào đó cô đã rời đi.

Rồi một năm mưa lớn, nước dâng ngập cả vùng. Nhớ ngọn núi quê cũ, cô lấy hoa lá và đá cuội xếp thành một ngọn núi tí hon trong sân, ngồi bên đó thật lâu. Ông cụ đi làm đồng về, thấy vườn tược ngổn ngang, buột miệng mắng cô mấy câu.

Cô lặng đi, không nói gì.

Nhưng mắng xong, lòng ông cụ lại chùng xuống. Ông biết cô đâu có lỗi gì, cô chỉ đang nhớ nhà thôi. Ông định quay lại dỗ dành con, thì đã muộn mất rồi.

Ngay lúc ấy, trên dòng nước lũ, một khúc gỗ trầm hương thật lớn trôi tới, tỏa mùi thơm ngát khắp một vùng. Cô gái nhìn khúc gỗ hồi lâu, rồi nhẹ nhàng hóa thân vào bên trong. Khúc trầm theo con nước trôi ra cửa biển, rồi cứ thế trôi mãi về phương Bắc, băng qua muôn trùng con sóng.

Ở một xứ phương Bắc xa xôi, khúc gỗ trầm dạt vào bờ. Hương thơm lạ khiến ai đi ngang cũng phải dừng chân. Người trong vùng xúm lại muốn khiêng khúc gỗ lên, nhưng lạ thay, khúc trầm nặng tựa núi, bao nhiêu người chung sức cũng không nhấc nổi.

Chỉ đến khi một vị hoàng tử trẻ, chừng hai mươi tuổi, đặt tay vào, khúc trầm bỗng nhẹ bẫng như một nhành hoa. Chàng đưa khúc gỗ về cung, đặt trong phòng mình, đêm đêm ngồi bên nó như ngồi bên một người bạn.

Rồi một đêm, chàng thoáng thấy một bóng trắng dịu dàng bước ra từ khúc gỗ, mang theo mùi trầm ấm áp. Đó chính là cô gái năm xưa. Hai người dần cảm mến nhau, rồi nên duyên vợ chồng, sinh được một trai một gái, đặt tên là Trí và Quý.

Sống nơi cung vàng điện ngọc, có chồng hiền con ngoan, vậy mà trong lòng nàng vẫn có một khoảng trống không gì lấp đầy. Đêm đêm, mùi trầm phảng phất đâu đó trong cung lại khiến nàng nhớ ruộng dưa dưới trăng, nhớ ngọn núi Đại An, nhớ đôi vợ chồng già đã cưu mang mình thuở nhỏ.

Nỗi nhớ quê cứ lớn dần, lớn dần. Cho đến một ngày, nàng dắt hai con trở lại bên khúc gỗ trầm hương, rồi cùng nhau vượt biển trở về phương Nam, về đúng cửa sông của quê nhà cũ.

Ở lại phương Bắc, vị hoàng tử nhớ vợ nhớ con khôn nguôi. Chàng sai người dong thuyền ra khơi đi tìm nàng khắp mặt biển. Nhưng nàng đã về tới quê nhà mất rồi. Truyền thuyết kể rằng khi những con thuyền tìm kiếm vừa tiến gần bờ biển phương Nam, bỗng gió nổi lên từ ngoài khơi, sóng dựng cao. Những con thuyền đành quay mũi trở về, để nàng được bình yên bên ngọn núi của mình.

Về đến chân núi Đại An, nàng vội đi tìm đôi vợ chồng trồng dưa. Nhưng ông bà đã già yếu và qua đời từ lâu. Nàng lặng lẽ dựng một ngôi miếu nhỏ để thờ hai người, như con thờ cha mẹ mình.

Rồi nàng ở lại với dân trong vùng. Thấy bà con còn nghèo khó, nàng dạy họ khai khẩn đất hoang, gieo lúa trồng ngô cho có cái ăn. Nàng dạy những người phụ nữ cách nuôi tằm, kéo tơ, dệt nên những tấm vải mịn màng. Ruộng đồng dần xanh tốt, khung cửi dần rộn tiếng thoi đưa. Người trong vùng coi nàng như một người Mẹ.

Đến khi dân đã đủ ấm no, một ngày kia, nàng hóa thành áng mây trắng bay về trời.

Người trong vùng thương nhớ Mẹ khôn cùng. Họ tạc một pho tượng đá để thờ Mẹ ngay trên đồi Cù Lao bên cửa sông, rồi dựng lên những ngọn tháp. Tháp ở giữa thờ Mẹ, hai bên thờ đôi vợ chồng trồng dưa và hai người con.

Từ đó, người Chăm gọi Mẹ là Po Nagar, nghĩa là Mẹ xứ sở. Người Việt về sau gọi Mẹ là Thiên Y A Na Thánh Mẫu, có nơi gọi thân thương là Bà Chúa Ngọc. Người Chăm và người Việt, mỗi dân tộc gọi Mẹ một tên, nhưng trong lòng cả hai, Mẹ vẫn luôn là người đã đem no ấm về cho xứ sở này.

Những ngọn tháp trong câu chuyện, ngày nay vẫn còn. Đó là Tháp Bà Ponagar, đứng trên đồi Cù Lao bên cửa sông Cái, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Phía sau tháp chính có một tấm bia đá cổ. Tấm bia ấy tên là Thiên Y Tiên nữ truyện, do cụ Phan Thanh Giản cho khắc vào năm một nghìn tám trăm năm mươi sáu, kể lại chính câu chuyện về người Mẹ này. Hơn một trăm năm mươi năm đã trôi qua, tấm bia vẫn lặng lẽ đứng đó, sau lưng những ngọn tháp gạch đỏ.

Cả nhà mình, nếu có dịp về Nha Trang, hãy thử một lần lên đồi Cù Lao. Đứng dưới chân tháp, giữa mùi trầm hương ấm trong làn khói nhang, ta sẽ hiểu vì sao suốt bao đời nay, người ven biển miền Trung vẫn gọi ngọn đồi này bằng một tiếng thật gần và thật ấm: nhà của Mẹ.

Câu chuyện gần đây