Tứ Ân — Bốn Ân Đức
Trước cổng chùa một sáng tháng Bảy, có một cái bàn nhỏ trải khăn vàng, trên đặt một rổ hoa hồng. Hoa đỏ một bên, hoa trắng một bên. Một em bé đứng tần ngần trước rổ hoa, tay đưa ra rồi lại rụt về, không biết nên chọn bông nào. Em quay sang ông, hỏi khẽ. Ông ơi, cài hoa để làm gì.
Người ông cầm tay cháu, dẫn ra ngồi dưới gốc cây trong sân. Hôm nay là mùa Vu Lan, cháu ạ. Để ông kể cho nghe.
Trong đạo Phật, có một điều quý lắm, gọi là Tứ Ân. Tứ là bốn, Ân là ơn. Tứ Ân là bốn ơn lớn mà người Phật tử Việt Nam suốt đời ghi nhớ và đền đáp. Theo trang Phật giáo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, bốn ân ấy là nền tảng đạo đức của một con người. Mà cháu nhớ điều này. Lòng biết ơn không phải là một cảm giác thoáng qua, nó là một việc làm, làm cả đời.
Ơn thứ nhất, lớn nhất, đứng đầu tất cả, là ân cha mẹ. Vì sao đứng đầu. Vì có cha mẹ mới có ta. Theo các thầy giảng, công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ bao la như biển cả. Mẹ mang nặng, mẹ thức đêm, mẹ bón từng thìa cơm. Cha che chở, cha lo lắng, cha gánh việc nặng để con được yên. Cháu thử nghĩ mà xem, có việc gì ta làm mà trả cho hết được ơn ấy đâu. Cho nên sống trọn ơn cha mẹ chính là sống trọn đạo làm người.
Ơn thứ hai là ân thầy tổ. Theo các thầy giảng, thân này là của cha mẹ cho, nhưng để nên người, để biết phải biết trái, để mở mang trí khôn, là nhờ thầy. Từ người thầy dạy ta nét chữ đầu tiên ở làng, đến vị thầy trong chùa dạy ta điều hay lẽ thiện. Và xa hơn nữa, là ông bà tổ tiên, những người để lại cho ta tiếng nói, chữ viết, nếp ăn nếp ở. Mỗi câu ca dao cháu thuộc, mỗi điều hay cháu biết, đều có bóng dáng một người thầy đứng sau.
Ơn thứ ba là ân đất nước. Cháu nhìn quanh mà xem. Dòng sông cho ta nước, cánh đồng cho ta hạt gạo, ngọn núi che chắn xóm làng. Bao nhiêu người đã đổ mồ hôi giữ gìn mảnh đất này cho mình được sống yên. Bác nông dân làm ra bát cơm cháu ăn. Người đi trước gìn giữ làng quê để hôm nay cháu có một nơi để gọi là quê hương. Biết ơn đất nước là yêu lấy cái nơi đã cưu mang mình, thương từng con đường, từng mái nhà.
Và ơn thứ tư là ân Tam Bảo. Tam Bảo là ba ngôi quý, gồm Phật, Pháp và Tăng. Cháu biết không, ngày xưa Đức Phật cũng từng khổ, từng đi tìm, rồi ngồi yên dưới một gốc cây mà tìm ra con đường thoát khổ, hệt như ông cháu mình đang ngồi đây vậy. Phật là người đã tìm ra và chỉ lối. Pháp là lời dạy, là chân lý. Tăng là những người gìn giữ và trao truyền lời dạy ấy qua bao đời. Mai này cháu có lúc buồn, có lúc vấp ngã, thì lời Phật dạy sẽ như ngọn đèn soi cho cháu bước tiếp.
Người ông ngừng một chút, rồi nói tiếp. Cháu thấy không, Tứ Ân của người Việt mình hay ở chỗ này. Nó gom cả tấm lòng thờ cha kính mẹ, cả tình yêu với quê hương, lẫn cái ơn của đạo lý nhà Phật, vào làm một. Ơn cha nghĩa mẹ thì người Việt nào cũng thuộc nằm lòng, và đạo Phật dạy ta nhớ cái ơn ấy cho có đầu có cuối, sống cho có ân có nghĩa.
Thế còn bông hoa hồng thì sao hả ông. Em bé hỏi, mắt vẫn nhìn về phía rổ hoa.
Người ông mỉm cười. Đó chính là ân cha mẹ đấy cháu. Theo trang Phật giáo, tục cài bông hồng lên áo do Thiền sư Thích Nhất Hạnh khởi xướng trong mùa Vu Lan từ những năm sáu mươi. Ai còn cha còn mẹ thì cài lên ngực một bông hồng đỏ thắm, để mừng cái phúc lớn nhất đời mình là vẫn còn cha mẹ bên cạnh. Còn ai cha mẹ đã đi xa, thì cài một bông hồng trắng, để lòng mình hướng về, để nhớ, để thương, và để biết ơn người đã sinh ra mình.
Em bé nghe xong, chạy lại bàn hoa. Lần này em không tần ngần nữa. Em chọn một bông hồng đỏ, vì sáng nay cả cha lẫn mẹ đều đưa em tới chùa, đang đứng đợi ngoài kia. Người ông cài bông hoa lên ngực áo cháu, vuốt nhẹ cánh hoa cho ngay ngắn. Bông hoa đỏ ấy nhỏ thôi, mà ấm cả một mùa Vu Lan, và nhắc em nhớ rằng mỗi việc tử tế em làm từ hôm nay, đều là một cách đền đáp cái ơn đầu tiên và lớn nhất của đời mình.