Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ
Trước khi leo, cả nhà hãy đứng ở đây và nhìn lên phía trước.
Bức tường đá dài năm mươi tám mét, cao bảy phẩy năm mét, đây là bức phù điêu lớn nhất Đông Nam Á, được ghép từ hai trăm mười bảy tấm đá xanh Thanh Hóa, nặng gần bốn trăm tấn. Những tấm đá này được vận chuyển từ Thanh Hóa, hàng trăm cây số về phía đông, rồi mang lên đây và ghép lại thành bức tường ký ức này. Trên đó là cảnh kéo pháo vào trận địa, cảnh bộ đội xung phong, cảnh cờ được kéo lên, toàn bộ chiến dịch được khắc vào đá.
Và phía trên bức phù điêu là ba trăm hai mươi bậc thang dẫn lên đỉnh đồi D1.
Trước khi bắt đầu leo, tôi nói với cả nhà về con số ba trăm hai mươi và con số ba.
Ba trăm hai mươi bậc thang có ba chiếu nghỉ. Ba chiếu nghỉ không phải ngẫu nhiên, thiết kế có chủ ý chia tương ứng với ba đợt tấn công chính của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Lần dừng đầu là đợt một, từ ngày mười ba đến mười bảy tháng ba năm một nghìn chín trăm năm mươi tư: chiếm Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo. Lần dừng thứ hai là đợt hai, từ ngày ba mươi tháng ba đến ba mươi tháng tư: đánh các đồi phía Đông. Lần dừng thứ ba là đợt tổng công kích, từ ngày một đến bảy tháng năm: kết thúc chiến dịch.
Vậy khi cả nhà leo lên và dừng ở mỗi chiếu nghỉ để thở, hãy nhớ: đây không chỉ là nơi để nghỉ chân, đây là nơi để nhớ một đợt chiến đấu.
Bắt đầu leo nhé.
Ở chiếu nghỉ thứ nhất, dừng lại và nhìn xuống. Từ đây đã thấy được một phần thung lũng Mường Thanh phía dưới. Đợt một của chiến dịch: ba ngày, ba cứ điểm, Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo. Trong đêm mở màn mười ba tháng ba, Phan Đình Giót lấy thân lấp lỗ châu mai ở Him Lam. Đó là đêm đầu tiên.
Tiếp tục leo đến chiếu nghỉ thứ hai. Đợt hai kéo dài gần một tháng, các đồi phía Đông, trong đó có đồi A1 mà chúng ta vừa tham quan. Hơn một tháng giằng co, mỗi ngày lại có thêm thương vong.
Đến chiếu nghỉ thứ ba. Đợt ba: bảy ngày tổng công kích. Vụ nổ bộc phá trên A1 đêm sáu tháng năm. Sáng bảy tháng năm, de Castries đầu hàng.
Và bước thêm một đoạn cuối để đến tượng đài.
Đây là điều khiến thiết kế này thông minh: người leo lên tự nhiên trải nghiệm ba đợt tấn công theo đúng thứ tự thời gian, không cần ai giải thích bản đồ.
Tượng đài chính cao tổng cộng khoảng mười sáu phẩy sáu mét, thân tượng mười hai phẩy sáu mét bằng đồng thau bên ngoài, bê tông cốt thép bên trong, nặng hơn hai trăm tấn. Tác giả là điêu khắc gia Nguyễn Hải, được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Nhìn vào tượng: ba chiến sĩ đứng quay lưng vào nhau, mỗi người hướng ra một phía, ba hướng bảo vệ, tượng trưng cho ba miền Bắc, Trung, Nam cùng đứng vững. Họ nâng một em bé người Thái lên cao, em bé là con của đồng bào bản địa, những người đã nuôi bộ đội và cùng kháng chiến suốt chiến dịch. Và trên đỉnh là lá cờ "Quyết chiến quyết thắng."
Thiết kế muốn nói: chiến thắng này không phải của riêng ai. Không phải của một miền, một dân tộc, một lực lượng. Đây là chiến thắng chung, của quân, dân và các dân tộc.
Bây giờ cả nhà quay mặt ra ngoài và nhìn xuống. Đây là điểm quan sát toàn cảnh lòng chảo Mường Thanh tốt nhất trong toàn khu di tích. Từ đây, lần đầu tiên trong hành trình, cả nhà mới thực sự nhìn thấy tại sao người ta gọi nơi này là "lòng chảo": cánh đồng rộng phẳng bao quanh bốn phía bởi núi.
Pháp chọn nơi này vì cánh đồng bằng phẳng và sân bay, nghĩ đó là lợi thế. Nhưng nhìn từ đây, điểm yếu chết người hiện ra: bốn phía là núi cao. Và bộ đội ta đã kéo pháo lên những ngọn núi đó, bắn thẳng xuống. Đây là lòng chảo, không phải pháo đài.
Chính từ vị trí chúng ta đang đứng, địa thế của chiến trường hiện ra rõ ràng nhất. Không cần bản đồ. Không cần chú thích. Chỉ cần đứng đây và nhìn.
Khi xuống, cả nhà xuống ba trăm hai mươi bậc, cũng là ba đợt, nhưng theo chiều ngược lại. Và chiều ngược lại đó là hành trình của những người sống sót sau chiến dịch: trở về.