Chuyen.AIPlaylist
Hà Nội

Văn Miếu - Quốc Tử Giám

0:000:00

Cả nhà thử hình dung điều này nhé.

Một sáng đầu hạ năm một nghìn không trăm bảy mươi, ở phía nam kinh thành Thăng Long khi đó còn lác đác đồng ruộng, người ta dựng một ngôi miếu. Trong miếu thờ một người đã mất hơn một nghìn năm trăm năm trước. Người đó tên là Khổng Tử. Vị vua đứng ra cho dựng miếu là Lý Thánh Tông. Sáu năm sau, ngay bên cạnh ngôi miếu ấy, vua Lý Nhân Tông cho lập một trường học. Trường ấy ban đầu chỉ dành cho con vua và con quan đại thần. Cả nhà biết trường ấy bây giờ được nhắc tới với tên gì không? Quốc Tử Giám. Trường học cao cấp đầu tiên của nhà nước phong kiến Việt Nam.

Tám trăm năm sau, ngôi miếu và ngôi trường ấy vẫn còn đó, ngay giữa lòng Hà Nội. Hôm nay cả nhà mình sắp ghé thăm.

Văn Miếu - Quốc Tử Giám không phải một di tích bình thường. Cả khu rộng chừng năm vạn mét vuông, nằm giữa bốn con phố ở trung tâm thành phố. Quần thể có hai bộ phận. Văn Miếu thờ Khổng Tử và các bậc tiên Nho. Quốc Tử Giám là phần trường học. Suốt gần tám trăm năm, các triều Lý, Trần, Lê đều dùng nơi này để đào tạo nhân tài và vinh danh người đỗ tiến sĩ. Đến thời Nguyễn, khi kinh đô chuyển vào Huế, Quốc Tử Giám ở Thăng Long không còn vai trò trường quốc gia, nhưng Văn Miếu Hà Nội thì vẫn được gìn giữ.

Cả nhà đã đứng trước cổng chưa? Đó là Văn Miếu môn, cổng tam quan ở phía nam, quay ra phố Quốc Tử Giám. Bước qua cổng này, cả nhà bước vào năm lớp sân nối tiếp nhau theo trục Bắc - Nam. Năm lớp sân, năm câu chuyện khác nhau.

Lớp sân đầu tiên dẫn đến Đại Trung môn, hai bên là hai cửa nhỏ tên Thành Đức môn và Đạt Tài môn. Theo cách diễn giải phổ biến trong tài liệu giới thiệu, bốn chữ ấy ngụ ý "thành đạo đức, đạt tài năng", tức là tinh thần của Nho học. Người học vừa phải có đạo đức, vừa phải có tài năng. Một trong hai, chưa đủ.

Đi tiếp, lớp sân thứ hai, cả nhà sẽ thấy một lầu gác hai tầng tám mái, dáng vuông vắn, treo bốn chiếc khánh đá. Đó là Khuê Văn các. Lầu này có một câu chuyện. Cả nhà có biết ai cho xây không? Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành, năm một nghìn tám trăm lẻ năm dưới triều Nguyễn. Hình tròn ở tầng trên tượng trưng cho ngôi sao Khuê, ngôi sao chủ về văn chương theo quan niệm Nho học. Khuê Văn các bây giờ là biểu tượng chính thức của thành phố Hà Nội. Và đây là điểm hay. Tờ tiền một trăm nghìn đồng polymer mà cả nhà vẫn cầm trong ví ấy, mặt sau in chính là Khuê Văn các này. Lần sau rút tiền, cả nhà nhớ nhìn kỹ.

Qua Khuê Văn các là tới lớp sân thứ ba. Và đây là trái tim của di tích.

Trước mặt cả nhà là một hồ nước vuông vắn, có tên rất đẹp. Thiên Quang Tỉnh. Nghĩa là "giếng soi ánh sáng trời". Hồ hình vuông, theo cách hiểu phổ biến tượng trưng cho mặt đất, ăn ý với hình tròn trên Khuê Văn các tượng trưng cho bầu trời. Vuông và tròn. Đất và trời. Đó là cách diễn giải, cả nhà tin được tới đâu là tùy mỗi người.

Nhưng điều khiến cả nhà sững người sẽ là hai bên hồ. Hai dãy bia đá. Mỗi bên bốn mươi mốt tấm. Tổng cộng tám mươi hai bia. Mỗi tấm bia đặt trên lưng một con rùa đá. Rùa nằm im, đầu hơi ngẩng lên, lưng cõng cả lịch sử.

Tám mươi hai tấm bia này, cả nhà ơi, không phải là bia trang trí. Đây là tư liệu gốc. Trên mỗi tấm bia khắc tên, quê quán và năm đỗ của những người đã thi đại khoa đỗ tiến sĩ trong các khoa thi của triều đình. Tổng cộng, tám mươi hai tấm bia ghi tên một nghìn ba trăm linh năm vị tiến sĩ, qua tám mươi hai khoa thi, kéo dài từ năm một nghìn bốn trăm bốn mươi hai dưới triều Lê đến khoa cuối cùng năm một nghìn bảy trăm bảy mươi chín. Ba trăm ba mươi bảy năm khoa cử Việt Nam. Khắc lên đá. Đặt giữa sân.

Tấm bia đầu tiên được dựng năm một nghìn bốn trăm tám mươi tư, dưới triều vua Lê Thánh Tông. Mười bia đầu tiên. Sau đó các đời sau cứ thế tiếp tục dựng thêm.

Cả nhà thử nghĩ xem. Mỗi bia này là một thông điệp gửi cho hậu thế. Nhà nước phong kiến muốn nói rằng: ai học giỏi, ai đỗ đạt, tên sẽ khắc lên đá ngàn năm. Người không học, dù giàu dù sang, cũng không có một dòng. Đó là một cách dùng đá để khích lệ việc học.

Và thế giới đã ghi nhận. Ngày chín tháng ba năm hai nghìn mười, UNESCO ghi danh tám mươi hai bia tiến sĩ vào danh mục Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Một năm sau, năm hai nghìn mười một, UNESCO nâng cấp thành Di sản tư liệu thế giới. Năm hai nghìn mười lăm, Thủ tướng Chính phủ công nhận tám mươi hai bia là Bảo vật quốc gia.

Qua khu bia tiến sĩ, cả nhà đi tiếp qua Đại Thành môn vào lớp sân thứ tư. Đây là khu thờ chính. Trước mặt cả nhà là Đại Bái đường và Điện Đại Thành. Giữa điện thờ Khổng Tử. Hai bên là Tứ phối, bốn học trò xuất sắc nhất. Nhan Tử. Tăng Tử. Tử Tư. Mạnh Tử. Bốn cái tên này gắn liền với toàn bộ truyền thống Nho học mấy nghìn năm. Hai dãy nhà bên cạnh là Tả vu và Hữu vu, thờ thêm bảy mươi hai học trò khác. Người ta gọi là Thất thập nhị hiền.

Lớp sân cuối cùng, lớp thứ năm, là khu Khải Thánh và Nhà Thái học. Nhà Thái học là phần được phục dựng từ năm một nghìn chín trăm chín mươi tám đến năm hai nghìn, đúng vào dịp kỷ niệm chín trăm chín mươi năm Thăng Long - Hà Nội. Bên trong trưng bày về truyền thống khoa cử và những vị Tư nghiệp Quốc Tử Giám, tức là "hiệu trưởng" của ngôi trường ngày xưa. Trong đó, nổi tiếng nhất là thầy Chu Văn An thời Trần. Thầy sinh năm một nghìn hai trăm chín mươi hai, mất năm một nghìn ba trăm bảy mươi. Đến giờ, hình ảnh và tinh thần của thầy vẫn gắn liền với câu "tôn sư trọng đạo" trong văn hoá Việt.

Vậy là cả nhà đã đi qua năm lớp sân. Cả nhà đã đi từ thời Lý xuống thời Trần, thời Lê, thời Nguyễn, và quay lại hôm nay.

Trước khi rời di tích, cả nhà nhớ ngoái lại nhìn Khuê Văn các một lần nữa. Lầu gác nhỏ ấy, đứng yên giữa sân, đã thấy gần hai trăm năm Hà Nội đổi thay. Còn tám mươi hai con rùa đá, ngẩng đầu cõng bia, đã âm thầm cõng cả truyền thống hiếu học của một dân tộc qua gần sáu thế kỷ.

Văn Miếu - Quốc Tử Giám không chỉ là một di tích. Nó là minh chứng cho một niềm tin rất Việt Nam. Học thì có thể đổi đời. Học giỏi thì tên được khắc lên đá. Và đá thì sẽ còn rất lâu sau khi chúng ta đã đi xa.

Câu chuyện gần đây