Vẽ rồng điểm mắt
Trên một bức tường chùa có bốn con rồng trắng.
Bốn con đủ cả. Đủ vảy, đủ móng, đủ râu, đủ cái sống lưng gồ lên từng khấc như răng lược. Vẽ tới mức đứng gần thì tưởng như nghe được tiếng gió lùa trong mấy cuộn mây quanh thân rồng. Chỉ có một chỗ để trống. Cả bốn con đều không có mắt.
Không phải mắt vẽ mờ. Cũng không phải vẽ hỏng rồi bỏ dở. Là chừa ra. Chỗ đáng lẽ có con mắt thì chỉ còn vôi trắng, phẳng phiu, sạch sẽ, như thể người vẽ cố ý dừng bút đúng ở đó rồi thu bút đi về.
Bức tường ấy nằm trong chùa An Lạc, ở đất Kim Lăng. Kim Lăng là tên cũ của thành Nam Kinh, một thành lớn từng làm kinh đô cho hết triều này sang triều khác. Và theo lời sách cũ chép lại, bốn con rồng thiếu mắt trên tường ấy khiến người ta hỏi đi hỏi lại mãi một chuyện. Không phải chuyện pho tượng, không phải chuyện gác chuông. Chuyện bức tường.
Người vẽ nó tên là Trương Tăng Dao, quê ở đất Ngô. Ông sống vào thời nhà Lương và làm quan trong triều vua Lương Vũ Đế. Có mấy năm ông giữ việc trong thư viện của nhà vua, lại được giao trông coi việc hội họa. Về sau ông lên tới chức Hữu quân tướng quân, rồi ra làm Thái thú Ngô Hưng.
Nhưng cái khiến người đời nhắc tên ông thì không phải mấy chức quan đó.
Vua Lương Vũ Đế rất ưa cho tô điểm chùa chiền, và phần lớn những bức tường trong các chùa ấy nhà vua giao cho một người vẽ, là ông. Ông vẽ Phật, vẽ thần, và ông vẽ rồng. Người xưa kể rằng rồng của ông không giống rồng của bất cứ ai khác. Nó không nằm yên trên tường. Trông như nó chỉ đang tạm nằm ở đó thôi.
Cho nên câu hỏi mà ai đến cũng hỏi là câu hỏi về đôi mắt.
Vẽ tỉ mỉ đến từng cái vảy bé nhất, sao lại bỏ trống hai con mắt? Chắc ai đứng trước tường cũng thử đoán một kiểu. Rằng ông chưa xong việc. Rằng ông cạn mực. Rằng ông cố để dở một chỗ cho có cớ quay lại.
Trương Tăng Dao có trả lời. Mà lần nào ông cũng trả lời đúng một câu. Điểm mắt vào là rồng bay đi mất.
Nghe xong thì không một ai tin.
Người ta cho là ông nói khoác, nói cho oai, nói cái điều không thể nào có để người khác phải trầm trồ về mình. Vẽ giỏi thì ai cũng chịu là giỏi. Nhưng giỏi tới mức vẽ cái gì thì cái ấy sống thật, thì thôi, chuyện đó chỉ có trong lời người kể.
Và vì không tin nên người ta nài. Nài mãi. Hôm nay một người xin, mai thêm vài người xin, rồi cả một đám vây lấy ông mà xin cho được. Cứ điểm thử một cái xem sao. Có hai chấm mực thôi mà. Ông cứ điểm đi rồi mọi người xem rồng có bay hay không.
Một người bị hỏi đúng một câu ấy hết ngày này sang ngày khác. Rồi cuối cùng Trương Tăng Dao chịu. Ông mài mực, chấm bút.
Ông không điểm cả bốn con. Ông chỉ điểm hai con.
Bốn nét thôi. Hai con mắt cho con rồng thứ nhất, hai con mắt cho con rồng thứ hai. Bút vừa rời khỏi tường thì hai con ấy đã có mắt, còn hai con bên cạnh vẫn trắng như cũ.
Rồi cả sân đứng đợi xem có gì xảy ra.
Chỉ một lát sau.
Một tiếng sấm. Một vệt sáng chạy dọc bức tường. Lớp vôi nứt ra, tường mở một khoảng, và hai con rồng vừa được điểm mắt bước lên một đám mây rồi bay thẳng lên trời. Nhẹ như hai con diều vừa được cắt dây. Sáng lóe một cái là hết. Trời lại quang, sân chùa lại nghe tiếng lá.
Trên tường bấy giờ còn lại hai con rồng.
Hai con chưa được điểm mắt. Vẫn đủ vảy, đủ móng, đủ râu. Vẫn nằm nguyên chỗ cũ, ngay cạnh khoảng tường vỡ mà hai con kia vừa đi qua.
Và đây mới là chỗ hay nhất của câu chuyện, cả nhà. Người chép lại nó không viết rằng ngày xưa từng có hai con rồng nằm trên tường ấy. Ông viết rằng hai con rồng chưa được điểm mắt thì hiện vẫn còn đó. Vẫn còn. Nghĩa là lúc ông đặt bút, ông tin rằng ai muốn kiểm tra thì cứ tới chùa An Lạc mà xem lấy.
Người chép ấy tên là Trương Ngạn Viễn, sống ở đời nhà Đường. Ông làm xong bộ sách của mình vào năm tám trăm bốn mươi bảy, tại Trường An. Bộ sách gọi là Lịch Đại Danh Họa Ký, nghĩa là ghi chép về những họa sĩ danh tiếng của các đời. Chuyện bốn con rồng nằm ở quyển bảy, và nó dài vừa đúng năm mươi mốt chữ. Ngắn như một mẩu giấy nhắn.
Trương Ngạn Viễn viết những chữ ấy khoảng ba trăm năm sau khi bức tường được vẽ. Nghĩa là chính ông cũng chỉ đang chép lại điều người ta kể cho ông nghe, hệt như bây giờ mình đang kể lại điều sách chép. Bức tường hôm nay không còn để ai tới xem nữa. Không ai chứng minh được là chuyện từng xảy ra thật, và cũng không ai bắt câu chuyện phải xảy ra thật mới đáng kể. Nó là chuyện người xưa kể, và nó được kể lại suốt hơn một nghìn năm vì cái hình ảnh nằm trong đó quá gọn và quá đẹp.
Gọn đến mức nó đi qua bao nhiêu đời người, bao nhiêu vùng đất, rồi ở lại luôn trong tiếng Việt.
Người Việt mình nói vẽ rồng điểm mắt. Câu ấy để nói về cái nét cuối cùng, cái chi tiết bé xíu làm cả một việc lớn bỗng sống dậy. Bài văn viết xong rồi, thêm một câu kết đúng chỗ thì mới thành bài. Mâm cơm bày xong rồi, rắc mấy sợi hành lên bát canh thì mới thành mâm cơm. Người ta khen nhau bằng câu ấy quen quá, đến nỗi nhiều khi không còn nhớ nó từ đâu tới.
Nhưng cái ý trong câu chuyện thì không dừng lại ở một câu thành ngữ. Nó còn sống hẳn thành một nghi thức, và nghi thức ấy thì ngay ở đình chùa mình vẫn gặp.
Mỗi khi một cái đầu lân hay một cái đầu rồng mới làm xong, người ta không mang ra dùng ngay. Phải làm lễ khai quang điểm nhãn trước đã. Khai quang là mở ánh sáng, điểm nhãn là chấm mắt. Người ta bày hương hoa trước bàn thờ, thắp hương, vái, đặt lá linh phù lên đầu lân, buộc dải lụa đỏ lên sừng lân, rồi mới đưa bút lên. Nét sau cùng, nét được để dành lại cho tới lúc ấy, là nét cho đôi mắt.
Có một chỗ khác hẳn với chuyện xưa. Ở chùa An Lạc, người ta nài cho được hai cái chấm ấy, rồi hai con rồng đi mất. Còn ở sân đình sân chùa mình, hai cái chấm ấy lại chính là điều cả đoàn đứng chờ. Chấm xong thì đầu lân được coi như đã tỉnh, và trống nổi lên ngay sau đó.
Cho nên Trung thu này, hay sáng mồng một Tết, nếu cả nhà đứng gần một đoàn lân đang sửa soạn, hãy nhìn vào cái đầu lân trước lúc nó ra sân. Nhìn thật kỹ đôi mắt. Hẳn đã có một người nào đó đứng đúng chỗ Trương Tăng Dao từng đứng, tay cầm bút, chần chừ một nhịp trước hai cái chấm cuối cùng.