Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Lê Long Đĩnh

0:000:00

Trong một gian nhà gỗ ở kinh đô Hoa Lư hơn một nghìn năm trước, có một em nhỏ đang cúi mình bên những trang sách mới. Trang sách thơm mùi mực, mùi giấy, từng con chữ được khắc in và chép lại ngay ngắn thành hàng. Em đưa ngón tay lần theo mặt chữ, khẽ đánh vần. Đó là những trang kinh sách quý vừa được mang về từ một nơi rất xa, để dạy người ta điều hay lẽ phải. Và người cho mang những trang sách ấy về nước chính là vua Lê Long Đĩnh.

Vua Lê Long Đĩnh là con của vua Lê Đại Hành. Ông sinh năm chín trăm tám mươi sáu, và là vị vua cuối cùng của nhà Tiền Lê, nước Đại Cồ Việt, với kinh đô đặt ở Hoa Lư. Ông ở ngôi từ năm một nghìn không trăm lẻ năm đến năm một nghìn không trăm lẻ chín. Thời gian ấy không dài, vậy mà nhà vua đã kịp làm những việc còn để lại dấu cho mai sau.

Cả nhà thử hình dung mà xem. Thời ấy, một bộ sách quý là cả một kho báu. Sách phải khắc từng con chữ lên gỗ rồi in, hoặc chép tay rất công phu, nên không phải nơi nào cũng sẵn. Vua Lê Long Đĩnh hiểu rằng muốn dân biết điều hay lẽ phải, muốn nước mở mang, thì trước hết phải có sách để học.

Thế là vua nghĩ tới những bộ sách lớn ở phương bắc, bên nước Tống. Năm một nghìn không trăm lẻ bảy, vua sai em mình là Minh Sưởng, cùng quan Chưởng thư ký Hoàng Thành Nhã, lên đường sang nhà Tống. Đoàn sứ mang theo lễ vật, dâng biểu lên vua Tống, xin được nhận hai bộ sách quý là Cửu kinh và Đại Tạng kinh.

Cửu kinh là chín bộ sách dạy đạo làm người, dạy phép cư xử, lẽ đúng sai. Đại Tạng kinh là bộ kinh Phật rất lớn, dạy lòng từ bi, dạy con người sống hiền lành. Vua Tống nghe lời xin ấy thì bằng lòng, ban cho hai bộ sách và cho sứ giả đưa về nước. Đường về xa xôi, núi cao sông rộng, nhưng đoàn người vẫn nâng niu từng quyển như nâng niu của báu.

Cả nhà ạ, đây là một chuyện thật đáng nhớ. Lần ấy là một trong những lần đầu tiên những bộ kinh sách lớn nhường ấy được chính thức đưa về đất nước ta. Từ Hoa Lư, ánh sáng của con chữ bắt đầu lan ra. Người lớn có sách để đọc, để ngẫm. Trẻ nhỏ có chữ để học, để nên người. Một hạt mầm học hành đã được gieo xuống.

Nhưng vua Lê Long Đĩnh không chỉ lo chuyện sách vở. Ông còn nghĩ tới miếng cơm manh áo, tới việc buôn bán làm ăn của dân. Ông chú trọng mở mang giao thương với nhà Tống ở vùng biên giới phía bắc. Ông xin đặt nơi buôn bán tận sâu trong đất Tống, ở Ung Châu. Nhà Tống không cho ở Ung Châu, mà chỉ cho buôn bán ở Liêm Châu và trấn Như Hồng. Dù vậy, việc dám xin mở chợ tận nơi xa ấy cho thấy nhà vua có đầu óc giao thương sớm và rộng.

Có chợ biên rồi, hàng hóa hai bên qua lại. Người mình mang lâm thổ sản đi đổi lấy vải vóc, đồ dùng. Bến chợ vùng biên trở nên rộn ràng kẻ bán người mua. Buôn bán thông thương thì dân thêm no đủ, mà no đủ rồi người ta lại càng có lòng học hành.

Vua còn lo cả những con đường. Đường sá thời ấy nhiều nơi còn lầy lội, sông ngòi cách trở, đi lại vất vả. Vào khoảng năm một nghìn không trăm lẻ tám đến năm một nghìn không trăm lẻ chín, vua cho làm đường, khơi sông và đặt trạm ở vùng Ái Châu, tức là đất Thanh Hóa ngày nay, từ Chi Long cho đến Vũ Lũng. Sông được khơi thông cho thuyền bè xuôi ngược. Đường được đắp cho người ngựa qua lại. Có trạm dừng chân, việc đi lại và chuyển vận đều nhẹ nhàng hơn trước.

Trong triều, vua cũng sửa sang nền nếp. Năm một nghìn không trăm lẻ sáu, vua định lại quan chế, phẩm phục và phép tắc trong triều cho có quy củ. Trên thì triều đình ngay ngắn, dưới thì đường thông sông thoáng, chợ biên buôn bán, lại thêm sách quý để học. Đất nước cứ thế mà mở mang dần ra.

Và cả nhà ơi, hãy quay lại với em nhỏ bên trang sách thuở đầu câu chuyện. Đoàn sứ thỉnh kinh năm xưa đã đi xa lắm rồi. Vua Lê Long Đĩnh cũng đã thuộc về hơn một nghìn năm trước. Nhưng những trang sách quý mà nhà vua cho mang về vẫn cứ thế được chép lại, in lại, trao từ bàn tay người này sang bàn tay người khác, từ đời cha sang đời con. Mỗi lần một em nhỏ cúi xuống, lần ngón tay theo từng con chữ và khẽ đánh vần, là một lần ánh sáng của những trang sách ấy lại được thắp lên, sáng mãi qua bao nhiêu mùa.

Câu chuyện gần đây