Vua Lê Thánh Tông
Cả nhà thử hình dung một hàng bia đá đứng lặng trong sân. Mỗi tấm cao hơn đầu người, đứng trên lưng một con rùa đá. Trên mặt bia, chi chít những hàng chữ khắc sâu. Mưa nắng bao mùa trôi qua, gió thổi qua sân, mà những hàng chữ ấy vẫn nằm đó, bền như đá. Đó là tên những người học giỏi thi đỗ. Và người nghĩ ra việc khắc tên họ vào đá là một ông vua tên là Lê Thánh Tông.
Tên thật của ông là Lê Tư Thành. Ông sinh năm một nghìn bốn trăm bốn mươi hai, là con thứ tư của vua Lê Thái Tông. Theo tài liệu của thư viện tỉnh Vĩnh Long, ông lên ngôi năm một nghìn bốn trăm sáu mươi, khi mới mười tám tuổi. Mười tám tuổi, cả nhà ạ, cái tuổi mà nhiều người còn đang mải học, đang mải chơi, thế mà ông đã gánh trên vai cả một đất nước.
Ông ở ngôi rất lâu, khoảng ba mươi tám năm. Lúc đầu ông đặt niên hiệu là Quang Thuận. Về sau ông đổi thành Hồng Đức. Cái tên Hồng Đức ấy về sau gắn liền với một thời được người đời sau nhớ mãi, một thời mà sách vở, luật pháp và thơ văn cùng nở rộ.
Có một điều ở ông khiến trẻ nhỏ nghe sẽ thấy gần gũi. Ông là một người rất ham học. Ông quý người tài như quý vàng. Năm một nghìn bốn trăm tám mươi tư, ông cho sửa sang, mở rộng Văn Miếu Quốc Tử Giám, là trường học lớn nhất nước thuở ấy. Và ông nghĩ ra một việc thật hay. Ông đặt lệ dựng bia đá để khắc tên những người thi đỗ tiến sĩ.
Cả nhà biết không, khắc tên lên bia đá nghĩa là gì. Nghĩa là ai thi đỗ tiến sĩ, tên người ấy sẽ được thợ đá khắc thật sâu vào bia, đặt giữa Văn Miếu cho muôn người trông thấy. Người chăm học, người có tài, cái tên khắc vào đá ấy ở lại với núi sông lâu hơn cả một đời người.
Nhưng vị vua mê sách này không chỉ lo chuyện học hành. Ông còn lo cho dân được sống yên vui. Năm một nghìn bốn trăm tám mươi ba, ông cho ban hành một bộ luật lớn, tên là Quốc triều Hình luật. Dân gian quen gọi là Bộ luật Hồng Đức.
Bộ luật ấy dày lắm. Theo báo Đắk Lắk, bộ luật ấy có tới sáu quyển, với bảy trăm hai mươi hai điều. Bảy trăm hai mươi hai điều, cả nhà ạ, để lo cho dân lành từng việc nhỏ. Điều đặc biệt là trong bộ luật có nhiều điều che chở cho người yếu thế. Có những điều bênh vực phụ nữ. Có những điều thương lấy trẻ em. Ở một thời xa xôi như thế, mà đã nghĩ đến việc bảo vệ người yếu, quả là một tấm lòng đáng quý.
Ông còn cho vẽ một tấm bản đồ của cả nước, người sau gọi là bản đồ Hồng Đức. Cứ tưởng tượng một bức tranh khổng lồ vẽ hết núi, hết sông, hết làng mạc, để ai cũng biết quê mình nằm ở đâu mà thêm yêu, thêm quý.
Vậy là ban ngày, ông vua ấy ngồi nghe quan tâu việc nước, đọc từng điều luật để dân lành khỏi chịu thiệt. Rồi đêm xuống, ông lại trở về với niềm vui riêng của mình, đó là thơ. Ông yêu thơ văn say đắm. Vào cuối đời, ông đứng đầu một hội thơ ngay trong triều. Vua và các bậc thầy chữ nghĩa cùng nhau ngâm vịnh, xướng họa, làm thơ về trăng, về hoa, về non nước. Năm một nghìn bốn trăm chín mươi bốn, vua cùng các quan trong hội làm nên một tập thơ tên là Quỳnh uyển cửu ca. Cái tên nghe thôi đã thấy thơm như một vườn hoa.
Vậy đó, cả nhà ạ. Một ông vua lên ngôi từ thuở còn rất trẻ, ban ngày lo luật cho dân được công bằng, ban đêm làm thơ cho đời thêm đẹp.
Và mỗi khi cả nhà có dịp đứng trước những hàng bia đá khắc tên tiến sĩ, hãy nhớ tới ông. Một người đã gửi cả tấm lòng mình vào hai thứ, là luật để che chở người yếu, và thơ để nâng niu cái đẹp, rồi để chúng ở lại lâu bền như những hàng bia đá kia.