Vua Trần Minh Tông
Trong điện vua, có một chiếc ngai vàng đặt trên cao. Nhưng người ngồi trên đó hôm ấy lại không thích nói nhiều. Ông thích ngồi yên mà nghe. Quanh ông là những người thầy giỏi, những vị quan tốt, đang say sưa bàn với nhau một chuyện. Đó là làm sao cho dân được mùa, được no, được sống vui. Vị vua hiền lành ngồi lắng nghe ấy, cả nhà ạ, là vua Trần Minh Tông.
Tên thật của ông là Trần Mạnh. Ông là vị hoàng đế thứ năm của nhà Trần.
Và đây là một điều thật đặc biệt. Cha của ông là vua Trần Anh Tông. Ông nội của ông là vua Trần Nhân Tông. Cả hai vị vua ấy, cả nhà mình đều đã từng nghe kể. Vậy là Trần Minh Tông sinh ra trong một mái nhà mà ông, cha, rồi tới ông, đều là những vị vua hiền của nhà Trần. Cả một dòng họ nối nhau lo cho dân, cho nước.
Ông lên ngôi vua năm một nghìn ba trăm mười bốn, khi tuổi còn rất trẻ. Ngôi vua được chính vua cha nhường lại, rồi cha ông lui về phía sau làm Thượng hoàng, lặng lẽ dìu dắt con.
Vậy vị vua trẻ ấy đã lo cho dân thế nào? Trước hết, hãy nói về những người ông tin cậy.
Điều người ta nhớ nhất về ông, là ông rất quý người tài. Trong triều khi ấy có những người thật giỏi giang, học rộng. Có ông Trương Hán Siêu. Có ông Nguyễn Trung Ngạn. Lại có ông Đoàn Nhữ Hài. Nhà vua tin dùng họ, cất nhắc họ vào những việc lớn của nước. Ông còn cho mở các kỳ thi, để tìm thêm những người tài giỏi ra giúp dân.
Mà cả nhà biết không, ông không chỉ trọng người tài. Ông còn chịu khó nghe họ. Một vị vua chịu lắng nghe người hiền bàn cách lo cho dân, đó mới là điều đáng quý. Bởi ông hiểu một lẽ giản dị. Một mình vua thì không thể biết hết mọi điều. Có thêm nhiều tấm lòng tốt cùng góp sức, thì dân mới được nhờ.
Tấm lòng lo cho dân ấy không chỉ nằm trong những buổi bàn việc. Nó còn ra tới tận bờ đê, tận ruộng đồng.
Ngày xưa, mỗi mùa nước lên, lũ lụt có thể cuốn trôi cả mùa màng, cả xóm làng. Vừa lên ngôi, vua Trần Minh Tông đã lo ngay tới việc đắp đê, ngăn lụt, để giữ lấy mùa lúa và đời sống của dân. Khi có trận lụt lớn, ông không ngồi yên trong cung. Ông đích thân trông coi việc đắp đê. Một vị vua xắn tay lo cho con đê của dân, hình ảnh ấy đẹp biết bao.
Nhờ vậy, đất nước dưới thời ông được yên ổn. Mùa màng tươi tốt, đời sống dân lành dần dần no đủ. Cái nền mà ông cha để lại, tới tay ông không những được giữ, mà còn sáng thêm.
Có một điều thật đẹp nữa ở vị vua này. Giữa trăm công nghìn việc, trong lòng ông vẫn có một góc dành cho thơ. Ông yêu chữ nghĩa, và chính ông cũng làm thơ. Tiếc rằng thơ ông phần lớn đã thất truyền theo năm tháng, nay chỉ còn lại chừng hai mươi lăm bài. Ít ỏi vậy thôi, mà đủ để đời sau biết rằng, ngồi trên ngai vàng năm ấy là một tâm hồn biết yêu cái đẹp.
Ông ở ngôi vua mười lăm năm. Đến năm một nghìn ba trăm hai mươi chín, ông nhường ngôi lại cho con, rồi lui về làm Thượng hoàng, đúng như cha ông ngày trước từng làm.
Nhưng lui về sau không có nghĩa là nghỉ ngơi. Suốt một thời gian dài, từ năm một nghìn ba trăm hai mươi chín cho đến khi qua đời năm một nghìn ba trăm năm mươi bảy, ông vẫn lặng lẽ đứng phía sau. Ông dìu dắt hai vị vua nối sau là Trần Hiến Tông và Trần Dụ Tông. Cả một đời người, ông cứ bền bỉ lo cho dân như vậy, hết làm vua lại làm chỗ dựa cho con cháu.
Cả nhà thấy không, vua Trần Minh Tông không phải vị vua của những trận đánh lớn lao. Ông là vị vua của tấm lòng. Một người hiền lành, biết quý người tốt, biết ngồi lắng nghe những điều hay lẽ phải, và một đời chỉ canh cánh một điều, là làm sao cho dân mình được sống vui.
Mỗi khi cả nhà nhắc tới ông, hãy hình dung lại căn điện năm xưa. Một vị vua ngồi lặng trên cao, mỉm cười lắng nghe những người hiền tài quanh mình bàn nhau lo cho dân. Bên ngoài kia, những con đê đang vững dần, những cánh đồng đang xanh lên, những xóm làng đang yên vui. Đó là hình ảnh đẹp nhất cả nhà hãy nhớ về vua Trần Minh Tông.