Vua Trần Nhân Tông
Trên đỉnh núi Yên Tử, mây đi qua như suối chảy ngang trời. Sáng sớm, sương đậu trên lá trúc, rồi nhỏ giọt xuống một con đường mòn dẫn lên cao. Ở nơi tận cùng mây trắng ấy, hơn bảy trăm năm trước, có một người mặc tấm áo nâu sồng giản dị, lặng lẽ leo từng bậc đá. Ít ai ngờ rằng người ấy từng là một vị vua, từng khoác áo bào, từng ngồi trên ngai vàng giữa kinh thành. Cả nhà ạ, người ấy là vua Trần Nhân Tông.
Theo trang thông tin của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ông tên thật là Trần Khâm, sinh năm một nghìn hai trăm năm mươi tám. Ông là một vị vua của nhà Trần. Năm một nghìn hai trăm bảy mươi tám, ông lên ngôi hoàng đế, gánh trên vai cả một đất nước. Một chàng trai trẻ, bỗng phải lo cho muôn người.
Mà thời ấy, đất nước đang đứng trước một thử thách rất lớn. Thử hình dung mà xem. Từ phương bắc, một đoàn quân hùng mạnh gọi là quân Nguyên Mông kéo xuống nước Đại Việt nhỏ bé của chúng ta.
Theo Viện Trần Nhân Tông thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, trong thời gian làm vua, ông đã cùng quân dân Đại Việt hai lần đánh lui đoàn quân ấy, một lần vào năm một nghìn hai trăm tám mươi lăm, rồi một lần nữa năm một nghìn hai trăm tám mươi tám. Một đất nước nhỏ, mà giữ được mình trước một đoàn quân lớn như vậy, là nhờ cả nước một lòng. Vua ở trên, dân ở dưới, ai cũng góp một phần để giữ lấy quê hương.
Điều đáng quý nhất không phải là vua Trần Nhân Tông biết cách giữ nước. Mà là khi đất nước đã yên bình, ông lại không hề ham giữ lấy quyền cao cho riêng mình.
Năm một nghìn hai trăm chín mươi ba, khi mọi việc đã yên, ông nhường ngôi vua lại cho con, rồi lui về làm Thái thượng hoàng. Nghĩa là ông tự bước xuống khỏi ngai vàng, lúc đang ở trên đỉnh cao của quyền lực. Một người từng chỉ huy cả nước, nay nhẹ nhàng đặt gánh nặng ấy xuống, như đặt xuống một chiếc áo đã mặc đủ lâu. Trong lòng ông, đã thấy bóng núi Yên Tử và một con đường tĩnh lặng đang chờ.
Nhưng ông chưa dừng lại ở đó.
Rồi đến năm một nghìn hai trăm chín mươi chín, ông làm một việc khiến người đời sau còn nhắc mãi. Ông cởi tấm áo bào, lên núi Yên Tử, một vùng núi cao mây phủ ở đất Quảng Ninh ngày nay, rồi mặc áo nâu sồng và đi tu. Theo trang thông tin của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, khi xuất gia, ông lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà. Từ một vị vua, ông trở thành một nhà sư hiền hòa, sống giữa rừng núi, giữa tiếng suối và tiếng chuông.
Ở Yên Tử quanh năm mây phủ ấy, ông không còn là người ra lệnh cho ai. Ông trồng cây, đi bộ trên những con đường mòn, và dạy mọi người sống tử tế, sống hiền lành, biết thương yêu nhau. Vị vua từng đứng giữa trận tiền, nay chọn một cuộc đời thật giản dị, thật yên.
Trên ngọn núi mây ấy, ông đã làm một việc rất lớn cho văn hóa nước nhà. Theo Viện Trần Nhân Tông thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, ông đã sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, gom các dòng thiền có từ trước thành một dòng thiền mang đậm bản sắc của người Việt. Người đời sau tôn ông là vị tổ đầu tiên của dòng thiền ấy. Một dòng thiền sinh ra trên đất Việt, do chính một người con đất Việt khơi nguồn.
Theo trang thông tin của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ông sống ở Yên Tử cho tới ngày cuối cùng, vào năm một nghìn ba trăm lẻ tám, ngay trên ngọn núi ông yêu mến, khi vừa tròn năm mươi mốt tuổi. Người đời sau kính trọng ông vô cùng, và dành cho ông một cái tên rất đặc biệt là Phật hoàng, nghĩa là một vị vua cũng là một bậc thầy hiền từ của muôn người.
Cả nhà thấy không, cuộc đời vua Trần Nhân Tông đẹp như chính ngọn núi nơi ông gửi lại tuổi già. Ông đã cởi tấm áo bào ở kinh thành để đổi lấy một tấm áo nâu và tiếng chuông trên núi. Bây giờ, mỗi sáng sớm, khi mây vẫn trôi qua những rặng trúc trên Yên Tử, người ta như còn thấy bóng một nhà sư áo nâu lặng lẽ bước lên đỉnh núi, mang theo một tấm lòng bao dung dành cho hết thảy mọi người.