Triệu Việt Vương
Cả nhà thử hình dung một vùng đầm lầy rộng mênh mông, lau sậy cao quá đầu người, cỏ nước xanh rì trải ra tới tận chân trời. Mặt nước lặng như tờ, chỉ có tiếng chim lội và tiếng gió luồn qua đám sậy. Ở giữa cái mênh mông ấy, hơn một nghìn năm trước, có một vị tướng đã đưa quân vào náu mình để giữ lấy nước nhà. Vùng đầm ấy tên là Dạ Trạch. Còn vị tướng ấy, về sau, dân ta gọi là Triệu Việt Vương.
Tên thật của ông là Triệu Quang Phục. Theo Báo Hưng Yên, cha ông là Thái phó Triệu Túc, quê ở Chu Diên, nay thuộc vùng Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Hai cha con cùng theo cuộc khởi nghĩa của Lý Bí, tức Lý Nam Đế, từ những năm đầu, một lòng muốn đất nước Vạn Xuân được tự mình làm chủ.
Rồi tới một ngày, Lý Nam Đế lui về vùng núi và lâm bệnh. Sử cũ chép lại rằng vua trao lại việc quân cho Triệu Quang Phục, dặn ông tiếp tục gánh vác. Trên vai người tướng giờ đây là cả một mong ước lớn, mong giữ cho được mảnh đất quê hương.
Cả nhà hãy tưởng tượng có một em nhỏ được đi theo đoàn quân, ngồi nép trong lòng một chiếc thuyền độc mộc nhỏ. Thuyền nhẹ tênh, luồn theo từng lạch nước hẹp giữa rừng lau. Theo Báo Hưng Yên, vào năm năm trăm bốn mươi bảy, Triệu Quang Phục lui về giữ đầm Dạ Trạch, một vùng đầm lầy rộng lớn, cỏ cây um tùm, chỉ có thuyền độc mộc nhỏ mới luồn theo lạch mà vào được. Ông đưa về đó hơn hai vạn người, tức là hơn hai mươi nghìn người.
Em nhỏ thì thầm hỏi, sao mình lại vào tận chốn lầy lội xa xôi này. Người tướng khẽ cười, chỉ tay ra bốn phía. Đầm rộng đến mức quân địch không biết đường nào mà tìm. Bùn sâu, nước quẩn, sậy kín, người lạ vừa bước vào đã lạc. Chính cái mênh mông yên lặng ấy là bức tường thành tốt nhất.
Và cách giữ đầm của ông mới thật tài tình. Theo Báo Hưng Yên, ban ngày, cả vùng đầm lặng như không có một bóng người. Quân sĩ tắt hết khói lửa, giấu kín thuyền, không để lại một dấu chân. Ai đi ngang cũng chỉ thấy lau sậy và mặt nước, ngỡ chốn này hoang vắng từ lâu. Nhưng khi màn đêm buông xuống, đầm lầy lại thức dậy.
Đêm đến, những chiếc thuyền độc mộc lặng lẽ rời chỗ nấp. Quân của ông men theo lạch nước, bất ngờ tìm tới doanh trại địch, lấy lương thực và khí giới rồi lại lặng lẽ rút về đầm trước khi trời sáng. Ngày ẩn, đêm hiện, cứ như thế hết ngày này qua ngày khác. Ban ngày, quân sĩ thay nhau vừa luyện tập, vừa trồng trọt, đánh bắt để tự nuôi nhau. Các sử gia sau này xem ông là người Việt đầu tiên được sử sách ghi lại đã dùng lối đánh du kích khéo léo như vậy.
Những đêm trăng, ngồi bên mạn thuyền, em nhỏ còn được nghe một câu chuyện kỳ lạ về vùng đầm này. Tương truyền, đầm Dạ Trạch gắn với chuyện tình của nàng Tiên Dung và chàng Chử Đồng Tử thuở xa xưa. Chuyện kể rằng, một đêm, thần ở đầm là Chử Đồng Tử cưỡi rồng vàng hiện xuống, ban cho vị tướng một chiếc móng rồng, dặn ông gắn lên mũ đầu mâu khi ra trận. Cả nhà nhớ nhé, đây chỉ là chuyện dân gian truyền lại, một giai thoại đẹp, không phải chuyện thật trong sử sách. Nhưng nó cho thấy người xưa thương quý và tin yêu vị tướng giữ đầm biết bao nhiêu.
Cứ thế, ông kiên trì náu mình, lấy cái nhẫn nại làm sức mạnh. Theo Báo Hưng Yên, tới khoảng năm năm trăm năm mươi, khi tướng giặc phải lui về phương Bắc vì việc nước của họ, Triệu Quang Phục liền từ đầm Dạ Trạch tiến ra, dẹp yên đám quân còn lại và làm chủ giang sơn. Ông xưng là Triệu Việt Vương. Dân gian thương mến còn gọi ông là Dạ Trạch Vương, nghĩa là vị vua của đầm Dạ Trạch. Nước nhà vẫn mang cái tên đẹp đẽ thuở trước, là Vạn Xuân, và ông đóng đô ở Long Uyên.
Ngày nay, ở vùng Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, quê hương ông, người dân vẫn nhớ ơn vị vua ấy. Theo Báo Hưng Yên, hằng năm nơi đây vẫn mở lễ hội Triệu Việt Vương để tưởng nhớ người con anh hùng của đất này.
Cả nhà ơi, đầm Dạ Trạch giờ đã đổi thay nhiều, nhưng đâu đó giữa miền sông nước Hưng Yên, lau sậy vẫn rì rào trong gió, mặt nước vẫn lặng lờ trôi. Nếu một ngày ghé qua, đứng lặng bên bờ đầm mà lắng nghe, ta như còn nghe thấy tiếng mái chèo khẽ khua trong đêm, tiếng một vùng đầm từng biết cách lặng im để giữ cho được cả một đất nước.