Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Triệu Việt Vương

0:000:00

Ban ngày, cả vùng đầm không có lấy một sợi khói bếp. Không một tiếng người, không một dấu chân trên bùn. Vậy mà người trong nước lại gọi người giữ vùng đầm ấy là một ông vua, vua Đầm Đêm. Muốn hiểu vì sao, ta phải đi ngược về hơn một nghìn bốn trăm năm trước.

Vị vua ấy tên thật là Triệu Quang Phục. Cha ông là Thái phó Triệu Túc, một trong ba vị quan đứng đầu triều đình Vạn Xuân, quê ở Chu Diên, vùng đất sau này gọi là Khoái Châu, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Ngay từ những năm đầu, hai cha con đã theo cuộc khởi nghĩa của Lý Bí, tức Lý Nam Đế. Dưới triều vua ấy, nước ta mang tên Vạn Xuân, nghĩa là muôn mùa xuân.

Nhưng mùa xuân của nước nhà chẳng được yên lâu. Đầu năm năm trăm bốn mươi lăm, nhà Lương ở phương Bắc lại huy động đại binh, cử Trần Bá Tiên, một vị tướng nổi tiếng giỏi trận mạc, sang đánh Vạn Xuân. Một cuộc kháng chiến dài năm năm bắt đầu từ đó.

Năm năm trăm bốn mươi sáu, Lý Nam Đế rút về động Khuất Lão, ở vùng đất nay thuộc tỉnh Phú Thọ, rồi lâm bệnh. Ông trao lại việc quân cho Triệu Quang Phục, dặn ông tiếp tục giữ nước. Từ đó, gánh nặng ấy nằm trên vai người tướng đất Chu Diên. Hai năm sau, Lý Nam Đế mất ở động Khuất Lão, và ông càng phải một mình đứng ra lo liệu.

Triệu Quang Phục cầm cự với Trần Bá Tiên một thời gian, hai bên chưa phân thắng bại. Nhưng quân Lương rất đông. Ông hiểu rằng nếu cứ đối đầu ngoài đồng trống thì khó lòng chống nổi. Ông chọn một con đường khác, kiên nhẫn hơn. Năm năm trăm bốn mươi bảy, ông bí mật lui quân về giữ đầm Dạ Trạch.

Dạ Trạch là một vùng đầm lầy bát ngát. Lau sậy mọc dày như rừng, cao quá đầu người, cỏ cây um tùm tới mức chẳng có con đường nào đi bộ vào được. Chỉ có những chiếc thuyền độc mộc nhỏ, nhẹ tênh, chống sào rẽ lau sậy, luồn theo từng lạch nước hẹp mới tới được bãi đất ở giữa đầm. Triệu Quang Phục thuộc lòng từng ngả đường nước ấy. Ông đưa về đó hơn hai vạn người, tức là hơn hai mươi nghìn người, dựng thành một căn cứ ẩn giữa lòng đầm.

Thử nghe một ngày ở Dạ Trạch thuở ấy. Mặt trời lên, mặt đầm lặng như tờ, chỉ có tiếng gió luồn qua đám sậy. Không ai nhóm lửa, không một làn khói bay lên, thuyền được giấu kín sau những bụi lau. Người đi ngang bờ đầm chỉ thấy cỏ nước xanh rì, ngỡ chốn này hoang vắng từ lâu. Thế nhưng bên trong, quân sĩ vẫn thay phiên nhau vừa luyện tập, vừa lao động để tự lo lấy cái ăn.

Rồi màn đêm buông xuống, và đầm lầy thức dậy. Những chiếc thuyền độc mộc lặng lẽ rời chỗ nấp, khua mái chèo thật khẽ, men theo lạch nước mà ra ngoài. Quân của ông bất ngờ đánh úp doanh trại quân Lương, lấy lương thực và khí giới, rồi lại lặng lẽ rút vào đầm trước khi trời sáng. Ngày ẩn, đêm hiện, cứ như thế hết ngày này qua ngày khác. Người xưa tả lối đánh ấy là đến không thấy bóng, đi không thấy hình. Cũng vì thế mà người trong nước thương mến gọi ông là Dạ Trạch Vương, nghĩa là vua Đầm Đêm.

Quân Lương nhiều lần dốc sức đánh vào vùng Dạ Trạch, mong dập tắt hẳn cuộc kháng cự của quân dân Vạn Xuân, nhưng lần nào cũng thất bại. Lạch nước chỉ vừa cho thuyền độc mộc nhỏ, bùn sâu, nước quẩn, sậy kín, người không thuộc đường vừa bước vào đã lạc. Trần Bá Tiên giỏi trận mạc đến đâu cũng đành bất lực trước một đội quân lúc có lúc không như thế. Quân Lương ngày một mỏi mệt, suy yếu, còn quân của Triệu Quang Phục thì càng đánh càng mạnh lên. Các nhà sử học sau này gọi đó là kế đánh lâu dài, và xem ông là người Việt đầu tiên được sử sách ghi lại đã dùng lối đánh du kích.

Những đêm trăng trên đầm, người xưa còn truyền nhau một câu chuyện kỳ lạ. Tương truyền, Dạ Trạch là vùng đầm gắn với mối tình của nàng Tiên Dung và chàng Chử Đồng Tử thuở xa xưa. Chuyện kể rằng một đêm, thần đầm là Chử Đồng Tử cưỡi rồng vàng hiện xuống, ban cho vị tướng một chiếc móng rồng, dặn ông gắn lên mũ đầu mâu khi ra trận. Cả nhà nhớ nhé, đây là chuyện dân gian truyền lại chứ không phải điều sử sách chép thật. Nhưng nó cho thấy người xưa tin yêu vị tướng giữ đầm biết bao.

Ông cứ thế kiên nhẫn chờ, và thời cơ đã đến. Năm năm trăm năm mươi, trong triều đình nhà Lương có loạn. Trần Bá Tiên bị gọi về nước để dẹp loạn, chỉ để lại đạo quân do tướng Dương Sàn chỉ huy. Chớp lấy thời cơ, Triệu Quang Phục đưa quân từ đầm Dạ Trạch tiến ra, mở liền một loạt trận đánh. Tướng Dương Sàn tử trận, thế quân Lương tan vỡ, những người còn lại rút chạy về nước. Cuộc kháng chiến năm năm khép lại, đất nước Vạn Xuân trở lại yên bình.

Từ đó, Triệu Quang Phục làm chủ đất nước, và người đời gọi ông là Triệu Việt Vương. Nước vẫn giữ cái tên đẹp đẽ thuở trước là Vạn Xuân, và ông vào đóng ở thành Long Biên.

Trên quê hương Hưng Yên, ông được thờ phụng ở nhiều nơi. Trong đền Hóa ở vùng Dạ Trạch, bên cạnh Chử Đồng Tử và Tiên Dung, người ta còn thờ cả Triệu Quang Phục. Cách đó chừng hai cây số lại có một ngôi đền thờ riêng Triệu Việt Vương. Hằng năm, vào ngày mười hai tháng tám âm lịch, ngày mà người xưa truyền rằng ông tế cờ ra quân, người dân quê ông lại mở hội để tưởng nhớ vị vua của đất này.

Vùng đầm năm xưa giờ đã đổi thay nhiều. Nhưng nếu một chiều nào đó cả nhà đứng bên bờ nước ở miền quê Hưng Yên, chờ cho nắng tắt hẳn, hãy lắng nghe đám lau sậy rì rào. Biết đâu giữa tiếng gió ấy, ta còn nghe thấy một mái chèo khua rất khẽ, của chiếc thuyền độc mộc vừa rời chỗ nấp, khi vua Đầm Đêm bắt đầu ngày làm việc của mình.

Câu chuyện liên quan